Thời gian buộc các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp không còn xa...
Mới đây nhất, Tổng công ty Lương thực miền Bắc đã chính thức được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con. Công ty mẹ - Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vianfood 1) cũng đã được Chính phủ quyết định thành lập trên cơ sở tổ chức lại Văn phòng Tổng công ty Lương thực miền Bắc, các chi nhánh của Tổng công ty tại TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Sađéc (Đồng Tháp), Công ty Bột mỳ Vinafood 1 và Công ty Lương thực cấp I Lương Yên.
Các bước chuyển đổi tương tự sẽ tiếp tục được thực hiện, với trên 1.000 tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước còn lại cho tới thời điểm ngày 1/7/2010, thời hạn hiệu lực cuối cùng của Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Giới phân tích cho rằng, khoảng thời gian còn lại có thể chỉ đủ để nhiều doanh nghiệp làm thủ tục chuyển đổi về mặt hình thức, song áp lực chuyển đổi này sẽ buộc các doanh nghiệp khó có thể lẩn tránh những điểm yếu về cấu trúc, mô hình quản trị doanh nghiệp, những điểm yếu lâu nay của khu vực doanh nghiệp này. Điều đáng nói là, áp lực chuyển đổi đang song hành cùng với những thách thức lớn từ biến động thị trường trong nước và quốc tế do tác động của khủng hoảng kinh tế.
Nhìn tổng thể, khu vực doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ thị phần chi phối của nền kinh tế, gồm: điện, khai thác khoáng sản, giấy, thuốc lá, xi măng, thép, hóa chất, cao su, dầu khí...
Tuy nhiên, những nghiên cứu mới đây về khu vực này cho thấy, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đang giảm khá nhanh. Tỷ lệ doanh thu thuần/vốn kinh doanh vào giai đoạn năm 2000 của khu vực doanh nghiệp nhà nước là 0,66, giai đoạn năm 2007 tới nay chỉ còn 0,55. Nếu so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực doanh nghiệp nhà nước rõ ràng có khoảng cách nhất định. Đánh giá hiệu quả bằng tỷ lệ vốn/chỗ làm việc, khu vực doanh nghiệp nhà nước cũng xếp chót bảng so với các khu vực doanh nghiệp khác.
Tuy nhiên, khó khăn trong tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước còn lại không hề nhỏ, thậm chí được cho là quá lớn trong khoảng thời gian còn lại. Lý do là các doanh nghiệp này có quy mô lớn, nắm giữ nguồn vốn nhà nước lớn, lao động đông... Thậm chí, khi phân tích về vấn đề này, chuyên gia Lê Thị Hoa, thành viên HĐQT Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)... so sánh, hơn 1 năm để sắp xếp hơn 1.000 doanh nghiệp nhà nước, trong đó có tới 760 doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa, là một “nhiệm vụ bất khả thi”, khi thực tế đã mất 17 năm để chuyển 3.836 doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Cũng phải nói rõ là, 760 doanh nghiệp còn lại có quy mô vốn chiếm tới hơn 70% tổng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước.
Hơn thế, khung khổ pháp lý đối với các công ty cổ phần mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối hiện chưa rõ ràng, khiến địa vị pháp lý trên thực tế của các công ty thuộc diện này rất “chung chiêng”. “Khi cần kiểm soát thì các cơ quan quản lý coi họ là doanh nghiệp nhà nước, khi xét hưởng ưu đãi của Nhà nước (nếu có) thì họ lại bị coi là công ty cổ phần”, bà Hoa nói.
Rõ ràng, áp lực về thời gian chắc chắn sẽ buộc các doanh nghiệp khó chần chừ, song điều kiện để tận dụng cơ hội chuyển đổi, tạo nên bước đột phá về cơ cấu, đặc biệt về quản trị doanh nghiệp nhà nước, sẽ khó thực thi nếu thiếu các điều kiện về pháp lý.
Nguồn: THEO BÁO ĐẦU TƯ SỐ 118 NGÀY 2/10/2009